Showing posts with label chuyệncuộcsống. Show all posts
Showing posts with label chuyệncuộcsống. Show all posts

Wednesday, 7 March 2012

TẢN MẠN NGÀY 8/3

Cách đây 3 năm, HMTđã viết một đoạn ngắn về ngày 8/3 để chia sẻ những cảm nhận rất riêng về ngày Quốc Tế Phụ Nữ. Vẫn luôn là những day dứt không nguôi về những mảnh đời, về những thân phận của "một nửa thế giới".

Bao giờ cũng vậy, phụ nữ và trẻ em luôn là nạn nhân của những vòng xoay lịch sử và xã hội. Hình như tốc độ xoay cuồng này càng bạo liệt trong cơn lốc của xã hội Việt Nam hôm nay. Những nội dung đăng tải trên hệ thống báo chí Việt Nam, vốn được liệt kê trong vài ngữ từ "cướp, hiếp, giết", cho thấy mức độ và nhịp độ của những bạo hành đối với phụ nữ không hề thuyên giảm, nếu không muốn nói là mỗi ngày một tăng, tăng đến chóng mặt và hình như ở nhiều nơi như thể đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát.

Thêm vào danh sách những nạn nhân của sự phân biệt đối xử và bạo hành này, có thể kể thêm danh sách của những thân nhân của những nạn nhân bị chết bởi công an, hay bị bắt bớ tù tội. Tôi chợt nghĩ đến ánh mắt thẫn thờ đến xót xa của những người con, người vợ đối diện những cái chết bất công của cha, của chồng (như trường hợp của Kim Tiến, chị Tuyền...) ; tôi chạnh lòng biết bao trước những phụ nữ bị kết án, hay bị đưa vào Trại giáo dục cưỡng bức vì đã biểu lộ cách ôn hòa lòng yêu nước và khát khao công lý (Minh Hạnh, Bùi Hằng...).

Những sự bi ai này, như nét vẽ thêm vào bức tranh vốn đã rất thương tâm về thân phận người phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Một bức vẽ hiện thực đến xót xa vì sự bạo hành, bị buôn bán và cưỡng bức nô lệ lao động hay tình dục. Con số ngày mỗi tăng của những tệ nạn này không chỉ diễn tả đến tận cùng những vết thương lên hình hài của "một nửa thế giới", nhưng còn là một tiếng thét kết án mạnh mẽ chính sách điều hành đất nước của chính quyền thích tự sướng bằng so sánh "dân chủ Việt Nam gấp vạn lần dân chủ tư sản" (sic).

Vì vậy, ngày 8/3, nếu là thật cần thiết và chính đáng dành để tôn vinh, để khơi gợi ý thức bình đẳng về phẩm giá, về thân phận của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, thì cũng không thể thiếu  lòng thương cảm xót xa cho những người phụ nữ đang là nạn nhân của nạn bạo hành, phân biệt đối xử, hay bị đối xử tàn tệ. Những bông hoa được nâng đưa, những món quà được trao tặng, sẽ chẳng bao giờ có thể diễn tả cho hết những sự khó nhọc và hy sinh của của những người bà, người vợ, người mẹ đã dành cho gia đình, cho xã hội và dân tộc.

Một ngày 8/3 hay vạn ngày 8/3 đi nữa, sẽ trở thành chuyện phù phiếm, nếu không thể cải thiện một xã hội dân trí, bình đẳng và tôn trọng cho mọi người, mọi giới. Mà thật, khi nói chuyện với những người bạn Việt Nam sống ở Châu Âu, hay cả với những người bạn Châu Âu, thì hầu như họ không hế để tâm đến ngày 8/3 để tặng hoa hay để nhắc nhở về sự tôn trọng người phụ nữ. Cũng đúng thôi, đối với họ, ngày nào mà người phụ nữ không được tôn trọng...

Chỉ riêng ở  Việt Nam là rầm rộ ngày 8/3.

Chỉ riêng ở  Việt Nam, người ta nghe được tiếng thở dài và giọng nói xót xa của các mẹ :"đời người phụ nữ nhọc nhằn và khổ lắm"...

Chỉ riêng ở Việt nam, tôi nhớ để gởi những lời cám ơn và đồng cảm sâu sắc với phẩm giá và thân phận người phụ nữ...

Chỉ riêng ở Việt Nam, tôi thắp lên một nén hương để khấn nguyện : cầu trời cho sự thái hòa..., cho quyền con người được tôn trọng.

PS : Viết cho ngày 8/3 năm 2009

Sunday, 8 January 2012

CHUYỆN CON GÁI YÊU

Chiều nay bố mẹ đón con đi học về, từ ngoài cổng, bố mẹ ngóng nhìn con từ trong hành lang sâu của sân trường, nơi cô giáo thường dẫn con xuống để trao cho bố mẹ.

Nhìn con lẫm chẫm bước đi, lưng đeo cặp sách nhỏ, tay cầm chú thỏ bé mà mẹ mua cho con, bố thấy con gái bé bé bỏng thật đáng yêu biết chừng nào.

Vậy mà bỗng dưng có bạn lớn hơn, thích chú thỏ nhỏ trên tay con, đã nhào đến dành lấy. Bố thấy con gái bố chợt sửng sờ, rồi mạnh mẽ giữ lại con thỏ trong tay mình. Cuộc tranh giành ngắn ngủi nhưng rất quyết liệt cho đến khi cô giáo can thiệp, nói bạn kia bỏ tay để con giữ con thỏ nhỏ của mình. Nhìn con gái bé bỏng đỏ mặt vì tức giận, nhưng lại rất cứng cỏi, dù con là đứa trẻ nhậy cảm và dễ khóc, bố thấy tự hào biết bao.

Dĩ nhiên, bố không bao giờ muốn dạy con trở nên hung hăng hay hiếu chiến, nhưng cái cách con biết bảo vệ điều gì thuộc về mình, và dành quyền lợi ấy một cách quyết liệt làm bố nhìn con với ánh mắt ngưỡng mộ.

Đúng lúc ấy, mẹ của cậu nhỏ kia cũng đến đón con. Cậu bé rất thản nhiên như chưa hề xảy ra điều gì, và cô giáo cũng không thuật lại việc ấy cho mẹ của cháu. Mà đúng là chuyện giành đồ chơi chỉ là chuyện trẻ con. Bố cũng biết gia đình ấy, ba cậu nhỏ kia làm công an giao thông, nhà dĩ nhiên là khá giả, và qua cách phản ứng của mẹ cậu nhỏ, bố biết cậu vốn được cưng chìu lắm.

Bố chợt thấy bàn tay nhỏ bé của con tưởng chừng rất mỏng manh, thế mà lại tiềm ẩn một sức mạnh rất cương quyết. Bố chưa bao giờ quên đôi tay thật hồng hào và xinh xắn khi mẹ dạy con đưa hai tay cách trân trọng cho một người tàn tật. Mẹ đã dạy cho con biết tôn trọng và thương cảm những người bất hạnh khi thường đưa chút tiền để con biếu cho họ, bố càng không ngờ khi bàn tay bé xinh ấy lại biết trở thành một phương tiện để con rất quyết liệt với những gì thuộc về “chủ quyền” của con.

Bố mẹ sẽ vẫn tiếp tục dạy con biết đồng cảm, trân trọng và quảng đại để yêu thương và chia sẻ những gì mình có thể cho những người bất hạnh và thiếu thốn; nhưng cũng sẽ khuyến khích con biết quyết liệt chống lại những “bất công” và càng quyết liệt để bảo vệ những gì thuộc về mình.

Tối nay nhìn con đang ngủ say, tay vẫn còn ôm chú thỏ nhỏ bên mình như một “cam kết bảo vệ chủ quyền”, bố tin rằng tổ quốc này, nhân loại này cũng sẽ dạy con biết trân trọng quê hương, trân trọng quyền làm người, và bố tin rằng con cũng sẽ học được cách cương quyết để giữ lấy những di sản quý trọng đó.

Saturday, 26 November 2011

ĐẤT LẠNH TÌNH NỒNG

Nếu chỉ biết mùa đông của Edmonton qua những lời kể, hay những trang sách, thì không thể nào hiểu hết cái lạnh như thấu da cắt thịt của mùa đông nơi đây. Điều ấy cũng giống như người ta không thể nào biết được độ nóng của nước sôi nếu chưa ít là một lần trong đời có kinh nghiệm bị phỏng.

Những thông tin về mùa đông lạnh đến -40 độ không thể giúp tôi cảm nhận được đầy đủ cái độ lạnh của Edmonton. Ở Việt Nam, chỉ cần những ngày mưa bão của tháng 12, trời chỉ khoảng 20 độ, người ta đã phải khoác lên mình thêm chiếc áo để chống lại cái lạnh. Thế mà ở đây là -40.

Tôi đến Edmonton vào một ngày đầu đông, vậy mà tuyết đã phủ trắng trời. Từ trên cao nhìn xuống, cả thành phố như khoác một chiếc áo choàng trinh khiết. Chỉ hai ngày sau, nhiệt độ xuống còn -35. Những cơn gió đông gào thét, những đám bụi tuyết thốc trên đường hay rơi lả tả từ những cành lá rung mạnh sau từng cơn gió, và cái lạnh như xoáy vào hồn. Điều đáng kinh ngạc khác, trong khi con người thì co ro giữa cái lạnh như cắt da cắt thịt ấy, thì thật lạ, trên cành thông phủ trắng tuyết trước nhà, thỉnh thoảng vẫn có con chim sáo đậu ở đấy và hót lảnh lót. Những hình ảnh đầu tiên về mùa đông của Edmonton đã đi vào trong ký ức của tôi như thế.

Giữa cái lạnh và mênh mông của đất trời, con người hình như trở nên nhỏ bé, và khi co cụm lại, họ cũng khám phá sự cô đơn của chính mình, khám phá điều cần biết bao những tình cảm nồng ấm của người thân, như một nhu cầu thiết thực giữa trời đông giá rét này. Không biết có phải vì thế không, mà tình cảm của những người đồng hương Việt Nam tôi gặp nơi đây thật đáng trân trọng.

Những ánh mắt nhìn thiện cảm, những nụ cười và những lời thăm hỏi vốn dung dị, đơn giản là thế, lại có một khả năng phi thường : nó mang đến một sự ấm áp trong tâm hồn giữa trời đông giá lạnh. Đôi lần tôi tự hỏi, giữa cái lạnh lùng  của đất trời mùa đông và thái độ “lạnh lung” của con người, cái lạnh nào khắc nghiệt hơn? Để đối phó với cái lạnh của mùa đông, người ta có thể khoác them chiếc áo ấm, mở máy sưởi .v.v.; còn cái lạnh lung của con người, nó có thể đeo bám cách dai dẳng dù có thể người ta đang ở trong căn phòng ấm áp; cái lạnh của thời tiết có thể kéo con người lại với nhau, khi chung chia một tách trà nóng, hay một ly rượu cho ấm người, ngược lại, cái “lạnh lùng” của con người khép kín lại cánh cửa đến gặp nhau; cái lạnh của đất trời rồi sẽ theo dòng thời gian mà thay đổi, khi mùa xuân  đến, khi những tia nắng rực rỡ của mùa xuân trở lại, cái lạnh lẽo và u ám kia sẽ ra đi để nhường chỗ cho sự nồng ấm và chan hòa, còn cái “lạnh lùng” của con người, sẽ cầm giữ họ trong một mùa đông đằng đẳng của kiếp người.

Tôi nhớ những  con đường của thị tứ này, nhớ ngôi thánh đường của cộng đoàn người Việt và nhớ mãi những hình ảnh thân thương của những người đồng hương, những bạn bè nơi đây, những người mà trong những giấc mơ, tôi vẫn gặp lại. Họ rất gần trong tâm hồn qua những lời kinh nguyện mà tôi vẫn có thói quen thực hành.

Ngày rời Edmonton, chiếc phi cơ lại vút lên, để lại sau lưng tôi thành phố Edmonton, vẫn còn ủ mình trong chiếc áo choàng trắng của tuyết. Những giọt nước mắt tôi chợt thổn thức rơi xuống, không phải vì nỗi lo lắng của bản thân của gia đình mà tôi đang mang trên vai, nhưng là sự xúc cảm tận sâu thẳm trong tâm hồn vì những tình cảm nồng hậu của những bạn bè dành cho tôi và gia đình.

Trong màn nước mắt nhạt nhòa ấy, tôi lại thấy lung linh hình ảnh của những người bạn, cũng như hình ảnh con chim vẫn đậu và cất tiếng hót trên cành thông trước nhà giữa trời tuyết lạnh. Thượng Đế thật tuyệt vời! Những gì Ngài ban tặng cho vũ trụ này luôn đẹp và tiềm tàng một sức sống mạnh mẽ đến kinh ngạc. Những tình cảm thân thiện kia giống như ngọn lửa nhỏ trong tâm hồn, đủ sức tỏa độ nồng ấm giữa trời đông lạnh.

Có lẽ khó có cơ hội trở lại nơi đây, nhưng hình ảnh của thành phố và những người bạn sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của tôi ; Edmonton, xứ lạnh, tình nồng.

Saturday, 19 November 2011

VÔ CẢM

Đôi khi tôi tự hỏi, dành thời gian để suy nghĩ về đất nước, về thời cuộc, về những hiện tượng nghịch lý bất thường vẫn đang xảy ra cách bịnh thường trước mắt mình, liệu có phải là một sự "bất thường " chăng?

Đã không ít hơn một lần, những người bạn tâm giao khuyên mình đừng bỏ thời gian để suy nghĩ, để viết, để nói về chính trị nữa, "vô ích lắm", đó là kết luận của họ. Thậm chí, có người còn nói, họ vẫn đồng cảm với những suy nghĩ của mình khi đọc những bài viết, nhưng họ sợ sẽ có những liên lụy nếu để lại những dòng nhận định. Biết đâu công an mạng lại cho là họ có tư tưởng chống đối chính quyền, và rằng một khi đã bị lọt vào vòng ngắm ấy, họ có thể sẽ bị rắc rối, lắm chuyện rầy rà không tên.

Những suy nghĩ ấy rất thực, và nỗi sợ hãi cũng rất thực!

Tôi cũng đã từng mang nỗi sợ hãi đó. Thời sinh viên du học, chạy scooter, bằng lái bảo hiểm, giấy chứng nhận kiểm định kỹ thuật phương tiện đầy đủ, tôn trọng luậg giao thông, vậy mà vẫn giật thót người mỗi khi thấy xe cảnh sát chạy qua lại, hay cảnh sát đứng điều khiển giao thông. Chính cái "giật thót" này là tàn tích của những ngày tháng điều khiển xe ở Việt Nam. Tôi chưa bao giờ quên câu nói của người bạn về lực lượng công an giao thông Việt Nam :" Nó muốn phạt là phạt à, có 1001 lý do để nó phạt". Sự an phận, chấp nhận bị nhũng nhiễu là tâm lý rất "bình thường" của tôi và bạn bè khi sống ở Việt Nam.

Sự an phận này là lớp rêu phong đầu tiên bám vào trong tâm lý phản kháng của con người, nó tích tụ thành một mảng dày của sự khiếp nhược. Chính sự khiếp nhược này bao phủ từng cá thể lại, khiến nó không còn cảm nhận được mức độ cảm thức về nỗi đau của người khác, của đồng loại. Sự vô cảm của xã hội có lý do hiện diện và thống trị khởi đi từ đây.

Cách đây ít ngày, báo chí tường thuật sự phẫn nộ của nhiều người bỏ mặt em bé bị tai nạn ở Phật Sơn, Trung Quốc, và rất nhiều người đã cùng cất tiếng phụ họa cho tiếng nói phẫn uất này. Nghĩ cũng đúng, chính sự kiện "chốt" đó có thể làm thức tỉnh lòng trắc ẩn đã bị đóng rêu của con người. Nhưng xem ra, nó chỉ đến rồi đi như những thông tin được xử lý dưới bàn tay ma thuật của báo chí, rồi rơi vào vòng chảy êm đềm, rêu phong tiếp tục được phủ dày, phủ dày...

Có 3 người phụ nữ Việt Nam, lầm lũi cầm tấm hình người thân bị đánh chết đi tìm công lý... Họ bước đi lầm lũi, băng qua những ánh mắt vô cảm.

Có những người dân oan, dầm dũi nắng mưa đi tìm tiếng nói của công bằng, lẽ phải ... Họ lặng thầm đi, kéo theo những ánh nhìn vô cảm như lá mùa thu đầy dưới chân!

Có  đến gần 13000 người chết vì tai nạn giao thông ở Việt Nam mỗi năm ... Lặng lẽ rời bỏ cuộc đời... Văng vẳng bên tai giọng nói vô cảm : đường xá vậy...

Đã có đến gần hơn 87.500 trẻ em nhiễm bịnh "tay, chân, miệng" và gần 150 em đã tử vong... Sự im lặng đến đáng sợ ... Như thể những nạn nhân bé nhỏ vô tội ra đi kia chưa hề được xem như những con người.

Có rất nhiều, rất nhiều những điều lòng trắc ẩn cần phải đặt câu hỏi vì sao và cần phải lên tiếng biểu lộ sự đồng cảm...

Nhưng tôi vẫn im lặng, và chỉ đứng nhìn....

Rêu phong nào đã bám chặt trong tâm hồn tôi???



Friday, 16 September 2011

SƯỚNG CÁI MIỆNG !

1. Nam, bạn tôi, du học ở phương tây, trong dịp về Việt Nam thăm gia đình, bên đám bạn nối khố chén tạc chén thù, khi trả lời tôi có gì khác biệt giữa cuộc sống trời tây và ở “ta”, hắn điềm nhiên trả lời : Khác ở cái miệng.

Chậm rãi nhấp ngụm rượu, đánh khà một tiếng như lão già nghiện rượu thứ thiệt, giọng thật nhẹ hắn giải thích :

- Ở trời tây thì thèm ăn thức ăn Việt Nam, vì thức ăn tây mình không quen. Ăn không ngon miệng, nhưng được cái nói năng thoải mái sướng cái miệng. Không thích chính phủ, kể cả tổng thống thì chửi đổng cũng chẳng đụng đến ai. Về Việt Nam, ăn uống thức ăn theo khẩu vị Việt Nam, sướng cái miệng, nhưng bù lại, cũng khổ cái miệng vì không được nói những sự thật tai nghe mắt thấy.

Nhận xét dí dỏm của anh bạn làm tôi suy nghĩ thật nhiều. Xem chừng ra cái căn bịnh “tay, chân, miệng” đang hoành hành kia không chỉ nơi trẻ nhỏ, mà lây lan ra cả nơi người lớn, và vùng phủ diện tích của bịnh thì rộng khắp, chừng như cả Việt Nam.

2. Nói khôn ngoa, thật ngữ đánh tráo của  báo chí ngày hôm nay đã đạt đến một trình độ thượng thừa :  Có những kiểu nói để tránh đụng chạm đến sự thật : Tàu Trung quốc vào quấy rối trong vùng lãnh hải thì phải gọi là tàu lạ. Số nhân công Trung quốc vào lao động trái phép thì gọi là “lao động nước ngoài” ; thậm chí vừa rồi, bất bình trước sự hung hăng của Trung quốc trên biển đông, những người yêu nước biểu tình phản đối, thì cho là “tụ tập tự phát”, rồi thì bị “thế lực thù địch “ kích động”, và bị đàn áp, nhũng nhiễu .v.v.

Cùng ngồi nhậu, anh bạn Đảng viên chỉ nói : tụi mày có biết đám nào dám nói mạnh miệng nhất không?

Rồi hắn tự trả lời : Mấy ông đảng viên về hưu ah. Không còn sợ thằng nào nữa thì dám nói thôi. Còn lại, tụi tao còn trẻ, phải lo “cái miệng”.

Tôi hiểu, cái miệng đây, vừa là “nín câm”, vừa là tìm lo miếng ăn, lo bươn chải với cuộc sống…

3. Theo truyền thuyết, Phượng Hoàng là going chim quý, thức ăn của nó là máu tươi. Phượng Hoàng sống bằng máu tươi. Còn lũ quạ thì chuyên nghề ăn xác chết. Máu tươi không dễ tìm, trong khi đó, xác chết thì đầy rẫy. Vì vậy, chuyện Phượng Hoàng đói là chuyện rất đỗi bình thường.

Một hôm, lũ quạ đang nhao nhao bên xác chết, nhìn thấy vẻ yếu lả vì đói của Phượng Hoàng, chúng nài nỉ :”Biết anh là loài cao sang, và thực phẩm của anh phải là máu tươi nguyên tuyền. Nhưng anh biết đấy, làm gì mà lúc nào cũng có máu tươi. Anh thử tập dùng thức ăn như chúng tôi thì chẳng lo đói”.

Cái đói làm Phượng Hoàng chao đảo. Mà con người cũng đã từng nói một câu ngạn ngữ “Đói thì đầu gối phải bò” cơ mà. Phượng Hoàng đáp xuống bên lũ quạ, ngại ngần rồi cũng thử nếm chút thịt xác chết. Mùi hôi tởm lợm khiến nó rùng mình.

Phượng Hoàng chợt vút bay lên, để lại một tiếng kêu vang, cùng với lũ quạ đang căng tròn mắt nhìn…

“Thà chết với nỗi khát khao dòng máu tươi của loài Phượng Hoàng, hơn là no say với mùi xác chết của lũ quạ”.

Thursday, 15 September 2011

ĐI QUA NHỮNG MÙA TRĂNG

1. Ngày Trung thu, tôi gọi điện về thăm mẹ, hỏi đùa mẹ đón Trung thu thế nào! Mẹ cười hềnh hệch, bảo : đang mưa rả rích, mưa thúi đất sáng giờ, chẳng có trung thu gì hết mày ah!

Nghĩ cũng buồn cười, trung thu là tết của trẻ con, ai cũng cho là tết nhi đồng. Nhưng hình như, trẻ con giờ đây không còn là đối tượng chính của ngày trung thu nữa. Những hộp bánh trung thu đắt tiền được dành để biếu xén, trẻ con nhà nghèo chỉ nhìn mà chẳng bao giờ biết được vị mặn ngọt của bánh trung thu. Đường phố thì chật chội, ngổn ngang xe cộ, chẳng còn đường đi để rước đèn... Những hình ảnh của trăng, của trẻ thơ ngày xưa , hầu như giờ đã là một phần của quá khứ, của kỷ niệm, chỉ còn thỉnh thoảng gợi lại trong những cuốn phim ca nhạc mà thôi.

Chợt nhớ đến những mùa trung thu của tuổi thơ. Những ngày tháng khó khăn, mùa trung thu đến, lũ trẻ chúng tôi vui thú với những chiếc đèn ống lon, với đuốc, với bất cứ  thứ gì có thể góp nhặt một ít lửa, một ít ánh sáng để cùng vui với Trăng. Con đường quê còn vắng vẻ, không có  đèn đường, đủ để cho ánh sáng của những chiếc lồng đèn chế tạo trở nên lung linh hơn và huyền ảo hơn. Tình thân cũng ăn theo những chiếc lồng đèn mà sáng hơn, gần gũi hơn rất nhiều. Hình như Trăng lúc ấy rất hiền diệu, và ánh đèn rất lung linh, chả vậy mà những khuôn mặt trẻ thơ dưới trăng và đèn trở nên hồng hào, rất đẹp.

2/ Mẹ giờ bị ốm, lại lớn tuổi, ngồi trên xe lăn, tính tình dễ tủi thân và hờn dỗi như đứa trẻ. Nghe mẹ nói mưa thúi đất, không có trung thu phá cỗ, biết là mẹ thấy buồn. Hỏi mẹ còn nhớ bài hát "Ông Trăng" của Phạm Duy không, mẹ không trả lời, mà lẩm nhẩm hát vài câu : Ông Trăng xuống chơi cây cau thì cau sẽ cho mo...

Tôi hỏi đùa ngang, nếu Trăng xuống chơi với mẹ thì mẹ cho gì? Mẹ nói, mẹ cho cái xe lăn.

Oh Trăng ơi, chẳng biết mày có cần xe lăn không. Chứ mẹ không có thì chẳng đi đâu được. Nếu mẹ cho Trăng xe lăn, có lẽ mẹ mong được lành bịnh, có thể đi lại mà không cần nó nữa. Nếu vậy, mùa trung thu năm sau, hẳn sẽ có cái lồng đèn theo mẫu xe lăn rồi. Trước đây có mẫu máy bay, xe hơi, tàu thủy .v.v., có thêm chiếc xe lăn cũng không khó gì.

3/ Em bảo Trăng ở quê em sáng hơn.

Vùng cao nguyên bạt ngàn gió, những đêm rằm, trăng sáng vằng vặt, tỏa ánh dịu dàng trải dài khắp núi đồi. Trăng và gió trở thành những thổ dân của vùng cao nguyên, những thổ dân hào phóng, sẵn sàng ban phát hình ảnh của họ cho hết mọi người.

Trăng và em là đôi bạn thân. Em lớn lên với con sông, với cánh đồng, với những đêm trăng vằng vặt. Trăng và em là đôi bạn tri kỷ, hơn cả tri kỷ, là tình nhân. Có những lần trăng đã phủ xuống khắp người em, vuốt ve lên cơ thể nở nang đang  thì con gái, và em lặng người trước những cảm xúc lạ lùng của gió và trăng... Em nói em yêu trăng, và người đàn ông của em phải hiểu em như trăng : Biết nhìn em với ánh mặt dịu dàng như ánh trăng, nghe được nhịp tim và tâm sự của em như ánh trăng trên ngực ; và biết đón nhận em với sự trân quý như trăng mỗi lần phủ bóng trên em...

Những ánh trăng trong căn phòng nhỏ của tôi sẽ đi thật xa, thật xa. Nó bận làm ánh trăng của vùng cao nguyên đầy gió.

Tuesday, 12 July 2011

MẤT NGỦ

1/ Đã lâu lắm rồi mới có một đêm mất ngủ. Hình như cái đầu “duy ý chí” về một sự lạc quan, để tạo một sự “tự kỷ” hòng tìm sự bình thản cho giấc ngủ đã có vấn đề chăng?

Mà cũng thật lạ, trong đầu không hề có sự lo lắng, mình vẫn làm việc theo kế hoạch đã  lên và từng bước hoàn thành ; áp lực công việc lại không nhiều như cách đây vài tháng, thế mà khi ấy, chưa nằm đã ngủ, còn hôm nay thì dù đã nằm, đã vật vã xoay mình đủ kiểu, mắt vẫn mở thao láo, và đầu thì rất tỉnh táo… Thế rồi để cho suy nghĩ bay bổng, và bao nhiêu thứ ùa vào trong không gian bé nhỏ của vùng ký ức. Tự nhiên đêm nay, mình nhớ rất nhiều chuyện.

Những gì đã xảy ra, cứ chầm chậm phóng lên màn ký ức như một cuốn phim quay chậm. Chậm để thấy rõ hơn những điều đã xảy ra rất nhanh và đã thay đổi đến chóng mặt. Lặng lẽ thức dậy, viết vội những ghi nhận vào sổ nhật ký, vì sợ những ý tưởng sẽ quên. Đôi khi có những những điều chợt đến, rất bất ngờ, rất nhẹ, nhưng giá trị không hề nhỏ. Nếu bảo sự khó ngủ là một bất hạnh (theo một nghĩa rất dung dị), thì giữa những bất hạnh cũng hé lộ vào đó những hạt long lanh rất nhỏ của những những giá trị bất ngờ.

2/ Thường thì khi có những trăn trở, người ta dễ “trằn trọc”. Mình đã có kinh nghiệm chứng kiến những tiếng thở dài của mẹ trong những ngày tháng vất vả nhọc nhằn. Tiếng thở rất nhẹ nhưng lại sắc bén như lưỡi dao cứa vào màn đêm vắng, và thế là bật máu cho những sự lo lắng đời thường tuôn ra thành những “trằn trọc” của đêm.

Mình vẫn tự hào là người dễ ngủ. Đi trại, chỉ cần một khoảnh nhỏ cho vừa vặn lưng, không bị cấn, là đã làm một giấc ngon lành giữa những ồn ào náo nhiệt. Giữa những bề bộn, mình vẫn vun khéo để “ngủ”. Bạn bè vẫn ghen với sự “ngủ ngon mọi lúc mọi nơi “ của mình. Hôm nay tự nhiên khó ngủ, mình mới thấy được sự “khốn khổ” của những người mất ngủ. Cha ông mình vẫn bảo “Thức đêm mới biết đêm dài”. Một ngày mất ngủ để mình có thể hiểu hơn những người đang lo lắng vì phải đối diện với những khó khăn muộn phiền. Chợt nhớ đến em, em bảo dạo này em cũng mất ngủ rất nhiều…

3/ Lúc tạo nên vũ trụ, Thượng Đế tạo nên mỗi cá thể riêng rẻ, độc lập. Thức và Ngủ, tuy cùng được tạo nên một ngày, ở chung một nhà, nhưng chẳng khi nào chạm mặt nhau. Sự độc lập làm cho cả hai chợt thấy mình quá vĩ đại và độc đáo, vì thế, khái niệm cùng làm việc, cùng cộng tác .v.v., chỉ là những giấc mơ rất xa vời. Cả hai quyết định mỗi người một hướng… Và thế là , có những vùng, họ cùng phải thức với Thức khi chàng viếng thăm : đã thức thì phải làm việc, phải say sưa, phải hoạt động, xã hội giống như một cỗ máy đã mất thắng, một khi rồ ga thì không thể dừng lại. Ngược lại, nơi Ngủ đến, để lại một sự cô tịch đến lạnh người : người ta rúc trong chăn, vật vùi trong một xó nào đó để chỉ ngủ với Ngủ. Cuộc sống cứ như một dấu lặng miên viễn, không chỉ một khắc, một canh thâu, mà là dài, rất dài.

Cái gì quá thì cũng không hay!

Thượng Đế thấy thương cho những người phải sống quá lâu với Thức, và ngài cảm thấy thời gian quá phí phạm với những người nằm chung với Ngủ. Vậy là Thượng Đế dùng một sợi dây nhiệm màu, cột Thức và Ngủ áp lưng với nhau, không thể rời xa được.  Vậy là con người có Thức và Ngủ. Người ta nói, khi mà họ mất ngủ và thức nhiều, vì những lúc ấy, Thức mạnh hơn nên cố tình giữ chặt, không cho Ngủ có thể quay lại phía kia.

Rõ là hôm nay, bạn Thức thích mình, nên giữ chặt. Chịu thôi. Đành thức.

4/ Bonus : Khi viết đến đây, chợt nhớ đến cụ Triết nhà mình cái vụ :Việt Nam thức thì Cu Ba ngủ. Ta nói, cụ Triết cũng thấm nhuần lý lẽ của đất trời lắm đây. Chắc vậy nên cụ biết sau kỳ này là cụ sẽ “vui thú điền viên như Gióng”…

Thursday, 31 March 2011

Dấu nặng…

 

Không biết vì sao người ta gọi nó là dấu nặng, dù xét về hình thức, dấu nặng chỉ là một chấm nhỏ được đặt vào dưới một ký tự. Điều này cũng có nghĩa là, đôi khi có những điều, xét về hình thức thì giống nhau, nhưng nếu đặt ở những vị trí khác nhau, nó sẽ có tên gọi,  chức năng, và đưa đến những hiệu quả khác nhau.

Có lẽ tên dấu nặng đến vì hai lý do : xét về hình thức, nó được đặt dưới một ký tự, như thể một sự đeo bám được tháp vào. Hình ảnh những gì đeo bám dưới một vật thể, nó làm liên tưởng đến gánh nặng, trách nhiệm phải kéo theo ; xét về âm vận, đấu nặng làm từ mang âm bằng, mà để phát âm, giọng điệu thường trầm lắng xuống.

Nặng nề là vậy, khiêm tốn nằm dưới chân những ký tự là vậy, dấu nặng thực sự cần thiết để làm tròn đầy nhiệm vụ diễn tả ý tưởng, ngôn ngữ bằng văn tự như tất cả các dấu và ký tự khác. Người ta sẽ không hình dung nổi ngôn ngữ Việt Nam sẽ được diễn tả thế nào nếu thiếu dấu nặng. Cuộc đời cũng thế, cũng luôn cần đến những người, những thứ xem ra rất « bình thường » thậm chí có thể là « tầm thường » trong mắt người khác, nhưng thiếu họ hay thiếu những điều tầm thường ấy, cuộc sống khó đạt tới mức độ vuông tròn.

Dấu nặng cũng tồn tại giữa các dấu và con chữ khác như một quy luật tất nhiên của âm tiết, thì nó cũng là một nhắc nhở rất rõ ràng về cuộc đời này : sẽ có những gánh nặng trong đời. Khó tìm được một cuộc sống mà lúc nào cũng thảnh thơi, nhẹ tang bồng mà không phải vướng bận những trách nhiệm, những gánh nặng khác nhau. Gánh nặng cuộc đời, cũng như dấu nặng trong dòng chữ, trở thành một cơ hội cho con người rèn luyện vượt qua.

Tôi chợt nhớ đến anh bạn cùng xóm. Những năm tháng khó khăn, có được một chiếc xe đạp ngon không phải là điều dễ dàng. Đôi khi chiếc xe đạp cũ kỹ, nặng nề cũng là một tài sản không nhỏ.  Hầu như mỗi ngày đến lớp, lưng áo anh luôn đẫm mồ hôi, vì nắng nóng, nhưng cũng vì chiếc xe đạp cũ đã trở nên nặng nề. Sau này gặp lại, khi anh đã trở thành một người thành đạt, giàu có, anh vẫn giữ lại chiếc xe đạp cũ như một kỷ vật : « Nhờ nó, chân mình đã trở nên cứng cáp, và đã đứng vững trên những nẻo đường mới ». Anh nhẹ nhàng tâm sự với tôi về chiếc xe đạp cũ và nặng nề.

Cuộc sống, để đạt đến độ viên đầy, cũng  cần phải đầy đủ mọi mặt thành công và bỉ cực. Như thế, cuộc đời thành đạt không thể thiếu những dấu nặng trên đường.

 

 

 

 

 

Friday, 25 March 2011

DẤU CHẤM LỬNG ...

Dấu chấm lửng được cấu tạo bằng ba dấu chấm. Cũng lạ, nếu dấu chấm thường diễn tả một kết thúc tròn đầy, thì ba dấu chấm lại tạo nơi một sự lơ lửng đến dở dang. Hình như trong đời, có những điều tưởng chừng như đã kết thúc như dấu chấm, nhưng nếu nối kết các sự kiện ấy lại, nó có thể trở thành một dấu chấm lửng, một chấm lửng vẫn còn như những thanh âm mãi ngân nga chưa dứt. Nếu áp dụng điều ấy cho một đời người, hình như sẽ không bao giờ có dấu chấm hết cho mãi tận ngày xuôi tay. Ngay cả khi ấy, dấu chấm lửng vẫn tồn tại, người ta vẫn tin điều ấy “Thác là thể phách, còn là tinh anh” (Nguyễn Du)

Trong cách hành văn, người ta dùng dấu chấm hết cho một khẳng định (affirmative), và dấu chấm lửng được đặt vào để diễn tả những điều chưa nói hết, hay đã lược bớt. Nói cách khác, ngôn ngữ diễn tả của chấm lửng là một thứ ngôn ngữ bỏ ngõ, một thứ ngôn ngữ mời gọi người khác phải suy nghĩ, phải đắn đo để thấu hiểu. Chẳng vậy mà vẫn có những lời hát trong đời :”Có những niềm riêng làm sao nói hết, như rêu như rong đắm trong bể khơi”.

Đến lúc này, chấm lửng vượt lên giá trị thông thường của câu chữ, nó đòi hỏi người ta cần đọc hiểu với tâm hồn, với cảm nhận của chính trái tim. Thời tuổi trẻ, ai mà đã không từng một lần phải bâng khuâng với dấu chấm lửng trong cái ngập ngừng thật thanh nhã thiếu nữ, hay ánh mắt bí hiểm chấm lửng của chàng trai…

Vì bỏ ngõ cho những bất ngờ có thể xảy ra, dấu chấm lửng do đó có thể diễn tả một hình thức bất định. Nghĩa là sẽ không có một đáp số chung sau  chấm lửng, và cũng không có tồn tại chỉ một con đường duy nhất được mở ra. Khi ấy, dấu chấm lửng diễn tả sự uyển chuyển trong cuộc đời. Chắc hẳn vì lý do này, mà có người đã ví von : dấu chấm lửng, dấu của sự khôn ngoan thận trọng.

Cuộc đời mỗi người, xét trong một góc cạnh nào đó, cũng có thể là dấu chấm lửng đối với người khác. Ai đó đã nói : mỗi cuộc đời là một huyền nhiệm, không dễ gì, và cũng sẽ chẳng bao giờ hiểu hết một con người. Nếu ý thức điều ấy, cần phải tập nhìn mọi người bằng con mắt tôn trọng, và cần phải luôn đặt họ như một khách thể độc lập, một khách thể có nhân vị, có sự tự do của chính họ.

(Những gợi hứng từ cảm nhận của TAMH)

Monday, 21 March 2011

KỶ NIỆM

Trong đời, ai cũng có một miền ký ức gọi là kỷ niệm. Vì kỷ niệm nằm trong miền ký ức, nên tất cả những biến cố đã xảy ra đều có thể để lại những dấu tích của mình. Do đó có kỷ niệm buồn hay kỷ niệm đẹp là vì thế. Không ai tích chứa trong miền ký ức toàn là kỷ niệm đẹp, và cũng không ai có thể nói cuộc đời mình toàn những kỷ niệm buồn. Như một tấm thảm được đan xen bởi những sợi tơ ngang dọc, cuộc đời cũng vậy, kỷ niệm đẹp và ký ức buồn thường lẫn lộn, nhù nhoà lẫn nhau.

Nếu những kỷ niệm đẹp là nơi tâm hồn thường hay tìm đến, để sống lại những phút giây êm đềm tuyệt diệu, thì những kỷ niệm buồn vẫn có khả năng len lỏi đi vào trong tâm hồn, và để lại những hố thẳm đôi khi chực nuốt kéo người ta lọt thỏm vào đó. Và vì kỷ niệm là một động thái của tâm lý gắn liền với những biến cố, trong đó sự kiện, hoàn cảnh, nơi chốn và con người là những yếu tố cấu thành, nên khi người ta tiếp xúc với một hoàn cảnh, sự kiện hay con người cũ, thậm chí chỉ là một gì đó thấp thoáng hay na ná những gì đã qua, kỷ niệm lập tức nhận ra người xưa cảnh cũ, và có thể ùa về đấy ắp trong tâm hồn. Hạnh phúc và đau khổ cũng bắt nguồn từ đây.

Có người ví von đời người như những giòng sông chảy, mỗi bến đỗ hay mỗi khúc quanh là nơi ghi lại những biến cố trong đời. Có những bến đỗ bình yên, thanh thản và mộng mơ đến lạ kỳ ; có những khúc quanh gập ghềnh thác, dòng chảy cũng trở nên hung dữ và oằn mình sủi bột trắng xoá đến nao lòng. Nhưng rồi cuối cùng như một định mệnh, tất cả dòng sông sẽ đổ vào đại dương mênh mông. Những thác ghềnh trắc trở hay bến đỗ bình yên, chỉ còn là một phần của dòng sông quá khứ.

Này em,

Tìm cho mình một dòng kỷ niệm đẹp như một dòng sông êm đềm, đó cũng là một ước mơ trong đời người, nhưng kết quả sẽ thật hiếm hoi : có dòng sông nào không có những thời điểm đục ngầu của dòng nước đầy phù sa ? Nhưng hơn tất cả, dòng chảy đục ngầu đó lại là nguồn của những mảnh đất màu mỡ, tốt tươi. Đời người cũng vậy, những thời khắc đục ngầu có thể trở nên bổ ích, nếu mình biết chắt lọc, chọn lựa. Kỷ niệm đẹp trong đời sẽ không có, nếu mình không tìm cách tạo ra cuộc sống đẹp của ngày hôm nay. Nếu như vậy, dù có những sự kiện buồn, nó cũng là dịp để mình biết trân trọng những phút giây hạnh phúc, và nhất là dịp để mình biết sửa sai ! Hình như có câu hát đầy tính triết lý như thế : Ngày mai, đang bắt đầu từ ngày hôm nay ! Sống đẹp từng ngày, là chuẩn bị cho mình cả một dòng ký ức của kỷ niệm đẹp đấy em ạ!

 

Thursday, 14 October 2010

Lúc 0 giờ!

1. Lâu rồi không viết blog.

Câu này ít là đã từng nói nhiều lần. Có quá nhiều thay đổi trong suy tưởng, trong công việc và thậm chí cả trong những kế hoạch của cuộc sống, tất cả dồn mình đến một trạng thái trơ.

Khi đã trơ rồi, thì những xúc cảm cũng theo đó trở nên cằn cỗi. Ngồi đây lúc 0 giờ, giữa cái cũ của ngày đã qua, và thời khắc mới mẻ của ngày đang tới, tự nhiên cảm thấy muốn thay đổi : Thời gian cũng có thể thay đổi, ngày và đêm thay đổi, mình cũng có thể thay đổi chứ không phải là không. Vậy thì làm lại : viết blog.

2. Ngày mới bắt đầu nhảy đi từ con số 00 : 00 . Một dãy số "không" lại là bắt đầu cho một ngày mới. Có những bắt đầu chỉ từ con số 0??? Hình như cái triết lý chủ đạo của Lão Tử vẫn bằng những cái "không" " vi vô vi nhi vô bất vi"!

Cuối ngày ngồi lại và ngẫm nghĩ cái được mất, cái hay dở trong cách sống, cách nghĩ, cách ứng xử của mình trong một ngày, thì ra, có những lúc mình đang cố gắng chứng minh sự hiện hữu bằng công việc, bằng chính cái tôi theo kiểu "cogito, ergo sum" mà Descartes vẫn nói tới. Hiện hữu và hư vô vẫn là một cuộc rượt đuổi không ngưng nghĩ trong cuộc đời này. Ra thế mới thấy, sự giằng co của chính mình vẫn còn mù mịt, chưa ra lối thoát. Hình như không gian tối nhất vẫn là lúc 0 giờ. Mình đứng ở đâu? giây cuối của ngày đã qua, hay khoảnh khắc đầu tiên của ngày đang tới???

3. Kết thúc phần chuẩn bị cho TD ngày mai, thấy nhẹ  nhõm cả người. Gánh nặng của bài vở như được đặt xuống, đúng hơn là như chiếc cân đã trở về con số 0. 0 giờ và 0 áp lực, một sự trùng hợp thú vị, và lại mỉm cười với chính mình : khi đã xong công việc, mình vẫn phải trở thành số 0.

4. Những con số ngồi bàn tán cùng nhau xem ai giá trị nhất. Xếp theo thứ tự, thì số 1 tự mãn vì mình đứng đầu. Theo giá trị, số 9 tỏ ra đầy hứng khởi vì mình cao thứ bậc. Mỗi con số đều hài lòng về chính mình, và rồi liếc nhìn với chút thương hại và cả e ngại cho số 0.

Số 0 cũng biết thân phận của nó, nó chỉ khẽ thẽ thọt, rất nhẹ : " Mình là số 0, nhưng khi mình đứng cạnh ai, người ấy sẽ có giá trị gấp 10".

Nếu trong số học đã tồn tại số 0, thì trong đời, cũng cần những người dám khiêm tốn đứng bên cạnh người khác, để nâng giá trị của họ lên gấp mười.

Ai dám làm số 0???

Saturday, 12 December 2009

VỘI !

1. Điều đầu tiên phải thú nhận là thời gian vừa qua lười quá. Dĩ nhiên cũng bận bịu nhiều, nhưng lười vẫn là chứng "mãn tính", vì vậy cũng ít giờ vào blog thăm bạn bè, và quyết tâm quét nhà dọn cỏ thì cũng chỉ là "chót lưỡi đầu môi". Chợt ngẫm, cố tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu có nói một câu mà người ta thường trích dẫn "Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những việc CS làm ". Câu này coi bộ cũng có thể áp dụng cho những trường hợp "nói mà chưa làm " như mình. Đôi khi, dù khác nhau trong ý thức thức hệ, nhưng người ta lại đôi lần rất giống nhau trong cách hành xử.

 

2. Sắp đến Noel rồi, chính xác là còn đúng 13 ngày. Đường phố đã trang hòang rất lộng lẫy để đón Giáng Sinh và Năm mới. Cái lạnh cắt da không ngăn đuợc dòng người đổ xô xuống phố để mua sắm cho dịp cuối năm. Mà cũng phải, Giáng Sinh trước hết là một niềm vui, là một "tin vui cho tòan dân " ; và Hài Nhi Giêsu cũng là một quà tặng vì "Thiên Chúa đã quá yêu thế gian, đến nỗi ban tặng Con Một ". Chỉ có điều, đôi khi yếu tốt lễ hội và thương mại, đã làm mai một ý nghĩa nguyên tuyền của ngày lễ Giáng Sinh. Thực tế cho thấy, những tâm tình tôn giáo không được nói nhiều trong những dịp như thế. Đôi khi, chợt nhớ nôn nao cái họ đạo nghèo nơi miền quê Việt Nam của mình, ở đó, chỉ có một bầu khí linh thiêng và sốt sắng khi dự lễ Giáng Sinh.

 

3. Những bài nhạc Giáng Sinh lại có dịp được nghe lại. Thanh âm êm đềm gợi lên những hình ảnh lầu chuông, tà áo dài thướt tha trên đường đi lễ, rồi những Noel thời chinh chiến, lồng vào đó những cuộc chia ly để rồi "cứ bao nhiêu đêm Chúa xuống dương gian, bấy nhiêu lần anh nhớ người yêu " (Nguyễn Vũ - Bài thánh ca buồn), lại gây lên những xúc cảm. Những Giáng Sinh của kỷ niệm rất êm đềm và rất thơ của ngày xưa chợt ùa về làm sống lại một vùng ký ức xa vời. Cũng phải thôi, đã bao nhiêu năm rồi, giờ những khuôn mặt thân quen của quá khứ, đôi khi đã quá nhạt nhòa trong hiện tại.

 

4. Cuối năm, người ta lo tổng kết tất niên để định giá bước tiến hay lùi của cá nhân, tập thể. Hình như ở Việt Nam, những hình thức tổng kết này đang là thời điểm nở rộ. Dù chưa có đầy đủ những thông tin, nhưng những gì đang diễn ra, cho thấy một mặt trái của đất nước : khỏang cách giàu nghèo đã quá chênh lệch, số nghèo một ngày một tăng. Hình như đâu đó đã có một tổng kết, trong thời gian một học kỳ vừa qua, có khỏang 27.000 học sinh đã bỏ học. Con số này có gợi lên điều gì trong bạn, trong tôi... Học sinh bỏ học, vì chương trình quá khó, hay vì đời sống quá khó khăn không còn đủ điều kiện để theo đuổi việc học... Một thóang buồn trong mắt.

 

5. Chợt nhớ đến câu chuyện nàng Pando trong thần thọai Hy lạp. Con người đã mất mát rất nhiều, chỉ còn sót lại cho mình một hạt giống "Hy Vọng".

 

 

Sunday, 9 August 2009

SIDA TINH THẦN

Theo định nghĩa, SIDA (Syndrome d'ImmunoDéficience Acquise  = Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) hay còn gọi bệnh liệt kháng là một hội chứng của nhiều bệnh nhiễm trùng (ví dụ: lao, viêm phổi, nấm), mà người nhiễm HIV gặp phải do hệ miễn dịch của cơ thể bị tổn thương hoặc bị phá hủy nặng nề.  SIDA là giai đọan cuối của quá trình nhiễm HIV.

Nói một cách nôm na, căn bịnh SIDA làm cho hệ miễn dịch của cơ thể bị phá hủy, mất đi hòan tòan sức đề kháng, và chỉ cần một sự tấn công của mầm bệnh, dù hết sức nhỏ, cũng có khả năng tiêu hủy một cơ thể sống.  Sự nguy hiểm của căn bệnh chinh ở điểm này : cái chết trở thành một án lệnh khắc nghiệt lửng lơ trên cuộc đời.

Trong một cách nhin tương tự, người ta cũng có thể nói đến một chứng Sida tinh thần, khi mà người ta, vì một hòan cảnh nào đó, mất đi chính sức đê kháng của suy nghĩ.

Chúng ta đã trở nên sida trong chính suy tư của mình khi không còn khả năng đặt lại những câu hỏi mà đúng ra, một người bình thường cần phải có và cần phải tìm câu trả lời. Trước những sự kiện đang diễn ra từng ngày trong cuộc sống xã hội, khi mà những hậu quả của nó đang ảnh hưởng lên cuộc sống hiện tại và tương lai, thì rất nhiều, rất nhiều những mầm sida tinh thần cũng nảy sinh cùng lúc khi mà người ta đã mất đi khả năng để suy nghĩ, để phản biện.

Khi tôi không đặt vấn đề tại sao dân tộc tôi phải chọn lựa một cuộc sống theo định hướng XHCN, khi mà cũng là người, nhưng những quốc gia dânc hủ khác, người dân có cuộc sống sung túc và đầy đủ những quyền lợi căn bản của con người ? Lúc ấy, có thể tôi bị sida tinh thần.

Khi tôi không hiểu tại sao lúc nào, chính phủ của nước tôi, một quốc gia cộng sản, mà theo sự tuyên truyền là đích đến của lòai người, là tất yếu của lịch sử, và người dân được Đảng, là đỉnh cao trí tuệ của nhân lọai, lãnh đạo, mà lúc nào cũng nơm nớp sợ hãi vì những thế lực phản động, lo ngại diễn tiến hòa bình, dân chủ … Tất cả những nỗi lo sợ ấy của chính phủ, phải chăng không phản ánh một sự hụt hẫng trong hệ thống lý luận chính trị ?

Khi tôi không đặt vấn đề vì sao chính phủ dùng hệ thống công an để đàn áp những người đấu tranh cho một nền dân chủ thực sự và phổ biến, phải chăng nó không phản ánh một nền cai trị độc tài và chuyên chế ?

Khi tôi không đặt vấn đề về độ chính xác của những thông tin mà hệ thống tuyên truyền của chính phủ luôn vận dụng hết công sức : từ báo chí, truyền thanh, cho đến những hệ thống chính trị « dân vận » (những tổ chức vệ tinh của chính quyền). Tất cả có làm cho tôi đặt vấn đề vì sao họ đồng thanh ca một bài hát ? Hoặc đó là cả một sự thật tuyệt vời, hay là cả một hệ thống bị áp đặt phải hát chung một bài đồng ca ?

Còn nhiều, và rất nhiều điều tôi cần phải luôn tự hỏi để tránh cho mầm sida tinh thần xâm nhập vào trí óc của mình.

Cũng như căn bệnh Sida thể lý, có những phương thức lây truyền khác nhau, căn bệnh sida tinh thần cũng có thể đến từ nhiều nguyên nhân.

Có sự sida tinh thần khi tôi tự đặt mình vào vị thế người bàng quan, chỉ đứng nhìn và không cần suy nghĩ vì ít là cho rằng những biến cố kia chưa ảnh hưởng trực tiếp lên sinh họat và sinh mạng của tôi, của gia đình tôi. Những công nhân phải oằn mình lao động nơi xứ người, bị bóc lột tận xương tủy, những ngư dân bị giết hại và bắt giữ, những cô gái phải chọn lựa con đường bán thân nuôi miệng .v.v., đó là những người ở thật xa trong suy nghĩ của tôi, vì vậy, tôi không cần phải bận tâm và  suy nghĩ.

Cũng như căn bệnh sida, có thể đưa đến cái chết cho cơ thể, chứng sida tinh thần cũng làm cho một cơ thể dù sống, nhưng trong trái tim, trong khối óc, đã không còn khả năng cảm nhận, suy nghĩ. Lúc đó, sự sống chỉ đơn thuần là sự hiện diện của một cơ thể sinh học không hơn không kém.

Căn bịnh sida thể lý thì nguy hiểm và người ta thấy rõ mức độ nguy hiểm của nó. Căn bịnh sida tinh thần thì cứ bàng bạc, khi ẩn khi hiện, và người ta khó nhận ra nguy cơ của nó, có lẽ vì vậy, mà nạn nhân của chứng sida tinh thần cứ mỗi ngày một tăng theo cấp số nhân.

 

Thursday, 2 April 2009

TRỊNH CÔNG SƠN VÀ THAM VỌNG CHÍNH TRỊ

Đây là bài viết của Trịnh Cung được trích đăng trên tạp chí Da Mầu.  Xin phép post lại đây để bạn bè có thêm một cách nhìn về phía người nhạc sĩ này.

TRỊNH CÔNG SƠN VÀ THAM VỌNG CHÍNH TRỊ


Không quan tâm đến chính trị?

Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách “Như Những Dòng Sông” của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến Của Anh”, in trong “Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ & Suy Tưởng” do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)?


Sự thực có đúng như câu khẳng định chắc nịch ở trên của ông Hoàng Tá Thích và hoạ sĩ quá cố Bửu Chỉ? Chắc chắn là sai 100% rồi nếu như Trịnh Công Sơn không là tác giả của 3 tập nhạc phản chiến (Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam và Ta Phải Thấy Mặt Trời), và cũng chưa từng tham gia vào Phong trào Đấu tranh Đô thị của Thanh niên Sinh viên Học sinh để chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà chính cuốn sách của Hoàng Tá Thích và bài viết của Bửu Chỉ vừa nhắc đến ở trên đã có nhiều tiết lộ. Mặt khác, trong bài viết “Có Nghe Ra Điều Gì” Trịnh Công Sơn gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973 có đoạn như sau: “…Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn, nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi...”. Và trong thư TCS gửi cho Ngô Kha - người bạn cùng chí hướng chính trị và cũng là người em rể, đồng thời là lãnh tụ của Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức này đã bị Công An Huế bắt (1972-1974) - chúng ta sẽ dễ nhận ra ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn của Trịnh Công Sơn. Nhất là trong đoạn Lê Khắc Cầm nói về mối quan hệ giữa TCS và tổ chức cơ sở thành uỷ Huế do Lê Khắc Cầm bí mật phụ trách trước 1975 như thế nào, thì không thể nói là TCS không có toan tính chính trị như nhận định của hoạ sĩ Bửu Chỉ (Xin xem thêm Thư TCS gửi Ngô Kha và đoạn trao đổi về lá thư này giữa Nguyễn Đắc Xuân và Lê Khắc Cầm trong phần tư liệu đính kèm bài).

Trước khi nêu thêm những dẫn cứ quan trọng hơn để chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thái độ chính trị của TCS thời chiến tranh VN, và cũng nhằm cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS, tác giả xin kể một kỷ niệm với Ngô Kha và vì sao Ngô Kha lấy tên cho lực lượng đấu tranh của mình là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.

Vào năm 1971, tôi có mời Ngô Kha tới dự bữa cơm đầy năm Vương Hương, con đầu lòng của tôi tại nhà ở Phú Nhuận. Sau tàn tiệc, tôi đưa Ngô Kha ra về. Chúng tôi đi bô từ ngã tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ”. Tôi không ngờ lại bị Ngô Kha đưa vào thế kẹt. Lúc này, tôi đang là Trung Úy biệt phái dạy tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, vừa bị Nha Mỹ Thuật Học Vụ trả về lại Bộ Quốc Phòng vì được Mỹ cấp học bổng tu nghiệp mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ (Sau 1975 tôi mới biết ông Nguyễn Văn Quyện, kiến trúc sư, Giám đốc Nha Mỹ Thuật Học Vụ, người ký quyết định không cho tôi đi Mỹ và trả tôi lại quân đội theo đề nghị của hoạ sĩ Vĩnh Phối - Hiệu trưởng Trường CĐMT Huế, cả 2 đều là Việt cộng nằm vùng), và Ngô Kha đang là em rể của Trịnh Công Sơn, cũng mang cấp bậc thiếu uý Quân lực VNCH có tư tưởng phản chiến, nhưng tôi không biết gì về hoạt động ly khai của anh cho tới lúc này. Thật bất ngờ và căng thẳng, làm sao tôi có thể đi về phía bên kia chiến tuyến? Tôi không hề tham gia vào phong trào phản chiến, tôi chơi với Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường khi họ chưa là người chống lại chế độ Việt Nam Công Hoà. Ngay cả tại “túp lều cỏ” Tuyệt Tình Cốc ở Huế, nơi mà nhà văn Thế Uyên trong một bài viết của anh có tên “Cuộc Hành Trình Làm Người Việt Nam Qua Trịnh Công Sơn” đã tự bạch anh từng đến dự những cuộc họp bàn về đấu tranh chính trị do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đứng ra tổ chức, tôi cũng chưa bao giờ đặt chân đến đó và thậm chí không hề biết có những việc như thế. Đơn giản vì tôi rời Huế vào sống ở Sài Gòn sau khi tốt nghiệp Mỹ thuật năm 1962, mối quan hệ giữa tôi và họ chỉ là một tình bạn văn nghệ thuần tuý. Để thối thác lời đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên này cầu Kiệu và nói với anh:”Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng, sự việc sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.



Về Nguyễn Đại Thức là ai mà Ngô Kha dùng đặt tên cho lực lượng đấu tranh của mình?

Theo Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đại Thức nguyên là một hạ sĩ quan quân lực VNCH ly khai đã bắn hụt tướng Huỳnh Văn Cao khi ông dùng trực thăng kiểm soát tình hình Phật giáo xuống đường ở Đà Nẵng và Huế, và đã bị lính Mỹ bắn hạ. Hành động và cái chết của Nguyễn Đại Thức đã đưa Ngô Kha đến sự chọn lựa Nguyễn Đại Thức là tên và biểu tượng cho nhóm quân nhân ly khai đấu tranh chống Mỹ Nguỵ do anh tổ chức. Sau đây là đoạn viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Căn Nhà Của Những Gã LangThang”: “…Theo tin tức quân báo của Kha nhận từ đoạn Đà Nẵng, thì lực lượng thuỷ quân lục chiến của Kỳ sẽ chĩa mũi nhọn vào những người của phong trào mà họ cho là nguy hiểm, ngay từ lúc họ đặt chân đến Huế để tránh hậu hoạ. Ngô Kha cùng đi với chiến đoàn ly khai của anh sẽ kéo dài cuộc cầm cự trên đèo Hải Vân, để tạo điều kiện cho tôi thoát…”. Đối với cá nhân tôi, nhờ tiết lộ kinh khủng này của Hoàng Phủ Ngọc Tường, những năm gần đây, tôi mới biết mình đã từng bị Ngô Kha dùng tình bạn để đưa vào cái gọi là Chiến đoàn ly khai Nguyễn Đại Thức mà không biết khi anh rủ tôi đi vào cứ như đã nói ở trên. May mà tôi đã từ chối.

Với bao nhiêu sự việc gắn kết với nhau, hoà quyện, ăn khớp, như thế mà chúng ta vẫn còn hoài nghi, vẫn biện bạch đây chỉ là một thứ tình cảm hồn nhiên hay hoa mỹ hơn, đấy là ý thức về thân phận dân tộc, tiếng nói đòi hoà bình đậm tính nhân bản cho quê hương của một người nghệ sĩ tài hoa như TCS, thì chi tiết sau đây đã được Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục, đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không có con đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng Miền Nam!”.

Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn!



Từ Chính Trị Phong Trào đến Chính Trị Cầm Quyền?

Vỡ mộng chính trị cầm quyền

Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần sa sút này, tôi thường ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận 2 (nay là quận 1). Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm máu Sài Gòn nếu VNCH không buông súng.

Thế nhưng, TCS và người em không có tên trong thành phần chính phủ Dương Văn Minh khi các hệ thống thông tin quốc gia công bố ngày 27-4-75 và cũng không có tên kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống trong vai đệ nhất Phó Thủ Tướng - người bạn chính trị không lộ diện của TCS từ trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, một cố vấn chính trị, một công trình sư cho sự nghiệp chính trị của TCS, đã vận động cho TCS vào chính phủ này như là đại diện của phe Phật giáo. Và với kết quả này, nhà hoạt đầu chính trị trẻ tuổi Nguyễn Hữu Đống đã phải rời khỏi nhà TCS ngay sau đó, sau khi đã ăn ở trong nhà TCS nhiều tháng trước như một người em rể.

Sau này, trong thời Lý Quí Chung còn sống, tôi có hỏi về sự việc này. Với tư cách là một Bộ trưởng Thông Tin và người rất thân cận với tướng Dương Văn Minh, Lý Quí Chung đã xác nhận: không hề có một đề cử nào cho TCS và Nguyễn Hữu Đống vào chính phủ Dương Văn Minh cả. TCS và gia đình đã bị Nguyễn Hữu Đống lừa rồi! Và từ đó TCS đã coi Nguyễn Hữu Đống là kẻ ghê tởm.


Một chút về Nguyễn Hữu Đống

Nguyễn Hữu Đống tốt nghiệp thủ khoa Trường Kiến Trúc Sài Gòn khoảng năm 1964 nhưng không hành nghề kiến trúc sư, bắt đầu chơi thân công khai với Trịnh Công Sơn vào khoảng 1970. Tôi không được biết gì nhiều về nhân vật này ngoài việc chứng kiến sự xuất hiện thường xuyên trong nhà TCS những tháng trước 4/1975 với tư cách em rể TCS, giữa lúc Sài Gòn liên tiếp nhận những thông tin về các tỉnh Tây Nguyên thất thủ, và cũng được biết từ TCS vào những ngày cuối của tháng 4/1975 là: chính quyền mới sẽ vẫn giữ nguyên chiếc ghế Đệ nhất Phó Thủ Tướng của chính phủ đầu hàng Dương Văn Minh (tức ghế của Nguyễn Hữu Đống). Sau đó, Nguyễn Hữu Đống đã vượt biên và định cư ở Pháp.

Thế nhưng, vào khoảng năm 1992, Nguyễn Hữu Đống về Sài Gòn và tìm thăm tôi. Tôi tiếp anh tại nhà và cùng ăn trưa. Thật ra, giữa tôi và Nguyễn Hữu Đống không đủ thân để anh tìm thăm, chẳng qua là chỗ để anh trút hết những gì TCS và gia đình không tiếp khi anh tìm đến thăm họ sau hằng chục năm ly gián từ ngày ấy. Trong những thổ lộ của Nguyễn Hữu Đống có 2 chi tiết đáng chú ý: Một là: Ý tưởng và mô hình kiến trúc Ngôi Đền Tình Yêu có hình quả trứng (lấy từ truyền thuyết Âu Cơ đẻ ra 100 trứng) để TCS chủ trì như một giáo đường là của Nguyễn Hữu Đống; Hai là: để Ngôi Đền Tình Yêu này mang đậm sắc thái TCS, Nguyễn Hữu Đống lập ý cho TCS viết Kinh Việt Nam. Dự án này tôi đã được TCS cho biết trước năm 1975 và sẽ xây dựng trên ngọn đồi của Bác sĩ Bùi Kiến Tín ở Thủ Đức, nằm đối diện với nghĩa trang quân đội Sài Gòn cũ. Xét về mặt tài năng kiến trúc và con người đầy tham vọng làm chính trị của Nguyễn Hữu Đống cũng như mối quan hệ mang tính chính trị giữa anh và TCS thì thông tin này đáng tin hơn là gần đây có nghe dư luận từ Phạm Văn Hạng là dự án này của Phạm Văn Hạng và TCS được ông Võ Văn Kiệt ủng hộ?

(Để biết thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa TCS và Nguyễn Hữu Đống, xin độc giả đọc thêm đoạn trích dẫn trong phần ghi chú cuối bài viết này, câu Lê Khắc Cầm trả lời phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân về TCS).



Bài Học Lớn Cho Người Làm Chính Trị Tự Phát Trong Xã Hội CSVN

Những Gáo Nước Lạnh Ngày “anh em ta về”

Tuy nhiên, sau sự thất bại ấy, TCS lại đứng lên vui mừng vì Sài Gòn của anh trong ngày 30-4-75 đã xuất hiện: “Cờ bay trăm ngọn cờ bay” và“anh em ta về mừng như bão cát quay cuồng…”. Từ sự kiện tại Đà Lạt mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công Sơn. Thậm chí khi anh được kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đưa đến Đài Phát Thanh Sài Gòn để hát bài Nối Vòng Tay Lớn mừng chiến thắng lịch sử 30-4-75, TCS, tác giả của ca khúc có tính dự báo cho ngày huy hoàng này của quân Giải phóng và bi thảm cho phía VNCH, cũng bị Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN, đuổi ra khỏi phòng thu: ”Mày có tư cách gì mà hát ở đây!”…

Bị bất ngờ với cú ra đòn khá tàn nhẫn này của người “anh em”, TCS thật sự choáng váng và sợ hãi, mọi niềm hân hoan trong anh về giấc mơ hoà bình cho đất nước của mình nay đã thành hiện thực bỗng chốc tan thành mây khói. Niềm vui tưng bừng reo ca “…Mặt đất bao la / anh em ta về / Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng/ Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…” (Nối Vòng Tay Lớn) hôm ấy không thuộc về TCS, và thay vào đó là nỗi ám ảnh sắp bị thủ tiêu và phải làm thế nào chạy trốn khỏi “người anh em” càng sớm càng tốt.

Thật ra, tai nạn chính trị này đã có nguồn gốc từ quan điểm chính về tính hai mặt trong âm nhạc và con người TCS của Ban Văn Hoá Tư Tưởng-Trung Ương Cục Miền Nam do Ông Trần Bạch Đằng phụ trách. Chính nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã kể lại rằng đã có một cuộc họp kiểm điểm TCS trong Cứ trước 1975 với thành phần tham dự gồm có hầu hết các văn nghệ sĩ thoát ly theo MTGPMN như: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… dưới sự chủ trì của ông Trần Bạch Đằng.

Và Cuộc Chạy Trốn Khỏi Sài Gòn

Sự sợ hãi càng tăng cao khi TCS nhận được tin mình sẽ bị thanh toán. Chỉ vài ngày sau, TCS đã âm thầm cùng mẹ rời khỏi Sài Gòn bằng xe đò, trực chỉ ra Huế, nơi anh cũng đang có những ”người anh em” thân thiết cũ vừa chiến thắng trở về như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San,… hy vọng chắc được yên thân.

Trở lại sống trong căn hộ cũ 11 Nguyễn Trường Tộ - Huế, TCS quây quần với bạn bè cũ và mới không được bao lâu thì cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo TCS và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và TCS phải lên Đài truyền hình Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sự cố lần này cũng lại do một nhạc sĩ tổ chức, nhạc sĩ Trần Hoàn, Giám đốc Sở VH&TT tỉnh Bình Trị Thiên. Thế là TCS đã tránh được vỏ dưa SG nay lại găp vỏ dừa Huế! Sự bé cái lầm lần này, có lẽ do TCS đã kỳ vọng ở bạn mình quá nhiều nhưng thực tế vai trò trong lực lượng tiếp quản Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân rất khiêm tốn, chính họ cũng đang phải cố gắng phấn đấu để được kết nạp vào đảng thì làm sao bao che cho tác giả của 2 ca khúc từng bị người CSVN kết án (Ca khúc “Gia Tài Của Mẹ” với câu: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” đã xúc phạm đến đại cuộc chống Mỹ cứu nước của người CSVN và ca khúc “Cho Một Người Nằm Xuống” để thương tiếc Lưu Kim Cương - đại tá không lực VNCH chết bởi đạn của quân GPMN - người bạn một thời đã từng dùng máy bay không quân đưa TCS lên Đà Lạt thăm Khánh Ly hoặc ngược lại, đón Khánh Ly về hát với TCS) tại Sài Gòn?

Lần này ở Huế, tính tẩy chay TCS nghiêm trọng và công khai hơn hẳn vụ ở Đài Phát Thanh SG vừa qua. Tình bạn cũ trong trái tim TCS sụp đổ đã đành mà giấc mơ “Khi đất nước tôi thanh bình/Tôi sẽ đi thăm…” tưởng dễ thực hiện của anh cũng bị dập tắt. Những tháng ngày tiếp theo ở Huế, TCS sống như một con tin trong Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường xuyên được tổ chức bố trí đi lao động thực tế trên những cánh đồng vào mùa khô cũng như mùa lụt, không hơn gì một người phải chịu cải tạo.

Cuộc Chạy Trốn Lần Thứ 2

Tuy nhiên, đang kẹt trong cái thế “tiến thoái lưỡng nan” này ở tại chính quê nhà, nơi mình từng tham gia hoạt động đấu tranh chống Diệm rồi chống Mỹ-Thiệu trong Phong Trào Đô Thị Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân,… cũng không xong mà về lại Sài Gòn thì càng nguy hiểm thì một vị cứu tinh kịp xuất hiện, ông Võ Văn Kiệt - nhà lãnh đạo công sản cao cấp tiếp quản Sài Gòn lúc bấy giờ. Một cuộc vượt biên nội địa đưa TCS vào lại Sài Gòn sau khoảng 1 năm anh phải “đi thực tế” tại các vùng quê tỉnh Bình Trị Thiên được bí mật tổ chức do ông Kiệt uỷ thác cho nhà văn cộng sản Nguyễn Quang Sáng thực hiện thành công. Từ đây, dưới sự ưu ái của ông Kiệt và nhà văn Nguyễn Quang Sáng được uỷ nhiệm của thượng cấp chăm sóc TCS, cái hạn bị hăm doạ hay trù dập với người nhạc sĩ lãng mạn cách mạng này đã kết thúc.

Qua những “sự cố” như thế, có thể thấy TCS đã mắc những sai lầm với người CS như sau:
- Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.
- Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó.
- Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.

Và những sai lầm của TCS với phía VNCH:
- Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH.
- Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế.
- Chống lại phía đã tạo cho mình điều kiện học hành và tự do sáng tác, kể cả tự do tư tưởng dù có bị chế độ SG hạn chế và kiểm duyệt, nhưng không quyết liệt tiêu diệt như đã được thổi phồng (dùng giấy của Hoàng Đức Nhã cấp để đi đường do Phùng Thị Hạnh trung gian, nhiều sĩ quan VNCH che dấu…) để có một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tồn tại lừng lẫy như thế cho đến ngày 30-4-75. Dù ý thức chính trị ra sao, Trịnh Công Sơn vẫn là sản phẩm của chế độ VNCH đúng như Đặng Tiến đã nhận định trong một bài viết ở đâu đó mà tôi không còn nhớ tên.


Bước Ngoặt “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”

Sa Lầy vào Rượu và Xu Nịnh

Cuối tháng 5-1978, tôi ra khỏi trại cải tạo, gặp lại TCS. Lần nào đến nhà anh ở 47c Phạm Ngọc Thạch-Sài Gòn, sáng hay chiều, cũng thấy TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng là Whisky Chivas) với Nguyễn Quang Sáng và một số bạn “mới”. Tôi cảm thấy có một điều gì đó không ổn, hình như tôi, một thằng sĩ quan Nguỵ đi tù về, không còn được TCS và gia đình coi là người thân như ngày xưa. Thái độ khó chịu của tôi mỗi lần ngồi trước mặt những người bạn “mới” này của Sơn đã khiến tôi bị TCS và gia đình tẩy chay ngầm.

Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi rằng có những cuộc họp ở Huế vào những năm 60-70, TCS và những người mà tôi đã coi là bạn thân tình đã đem tôi ra để phê phán, tẩy chay vì tôi đã không trốn lính và đứng về phía Quốc Gia. Rất tiếc, trong số này lại có cả Đinh Cường, người đã từng học cùng trường mỹ thuật, ở cùng nhà, và do tôi giới thiệu làm quen với TCS, do tôi kết nối với anh bạn Thọ giàu có ở Đà Lạt để có những tháng ngày cùng TCS rong chơi thơ mộng khi lưu lại căn phòng anh Thọ đã thuê cho tôi tại biệt thự số 9 đường Hoa Hồng hay ở trong căn nhà sàn gỗ thơ mộng bên một dòng suối róc rách trong một hóc núi của thị trấn Đơn Dương từ trước khi tôi rời Đà Lạt về Sài Gòn năm 1964 theo giấy gọi vào quân trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức khoá 19. Và cả những tháng ngày nhàn nhã làm sinh viên sĩ quan tại đây vào năm 66 hay 67, lúc này tôi là sĩ quan huấn luyện CTCT và phụ trách một phần nguyệt san “Bộ Binh”. Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH của nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, TCS,.., nhiều năm trước.

Có một kỷ niệm đặc biệt với Đinh Cường mà tôi cũng muốn nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng, để lòng mình thôi nặng trĩu và cũng minh chứng cho một tình bạn không hề có thật mà anh ấy đã dành cho tôi, mà tôi đã hằng chục năm cố nghĩ khác đi, cố không tin. Sự việc xảy ra như thế này: Ngày 1-5-75, 8g sáng tôi đến nhà Đinh Cường ở đường Nguyễn Đình Chiểu cũ, gần chợ Tân Định để xem tình hình như thế nào. Như thường lệ tôi vẫn đến đây dễ dàng như người trong nhà nên rất tự nhiên bước lên cầu thang dẫn lên căn gác của bạn mình. Thế nhưng chị TN, vợ Đinh Cường đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi. Tôi không tin và nói lớn là có hẹn trước, lúc đó Đinh Cường mới nói vọng xuống để tôi lên. Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”. Lập tức tôi đứng lên và từ chối: “Không, hãy để tôi chịu trách nhiệm với họ, và Thành Phần Thứ 3, Thứ 4 gì họ cũng dẹp sạch thôi!”…

Với TCS, gia đình cùng các “đồng chí” rượu của anh, tôi lúc này là một kẻ xa lạ, một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu, một con kỳ đà làm cho cuộc vui hoan lạc của họ không được hoàn hảo, tôi nên biến đi. Nhưng tôi lại là một gã ngoan cố, tự cho mình nhiệm vụ phải ngồi lại để làm Sơn tỉnh táo hơn, để những tiếng nói bớt đi những lời xu nịnh. Ý thức được rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” nên tôi cố chiụ đựng sự khó chịu của họ và vẫn không tìm cách lấy lại chỗ đứng thân thiết vốn có với TCS thủa còn trai trẻ ở Huế bằng rượu chè, quà cáp đắt tiền và những tán tụng nuông chìu. Tôi vẫn đứng trên đôi chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức, đó là chỗ mà TCS, trong thâm sâu của tâm hồn anh, không thể loại bỏ tôi cho dù có khác nhau về quan điểm chính trị và cách sống. Đó cũng là điều mà TCS trong những lúc cô đơn nhất đã đến gõ cửa nhà tôi bất kể đêm khuya hay khi bình minh vừa ló dạng để hàn huyên hoặc khoe và hỏi ý kiến tôi về bức tranh mà anh vừa vẽ.

Điều Đáng Tiếc

Trong thời buổi sống như một kẻ bên lề của một Sài Gòn đã bị đổi tên và những người bạn thân một thời hồn nhiên như thế nay cũng đã cúi mình, ngoan ngoãn làm những con rối của chế độ mới, quay lưng lại với thân phận khốn đốn của đồng loại, tự huỷ tri thức, lương tâm, thứ một thời nhờ nó đã làm nên những ca khúc tranh đấu cho thân phận và tự do con người, nay chọn cho mình con đường sa lầy vào rượu, thuốc và phụ nữ, tôi thấy mình thật sự cô độc và bất lực trước sự sụp đổ từng ngày của một người bạn tài hoa nhất mà tôi từng yêu quí. Nhiều khi tôi muốn nói với bạn mình: “Tại sao cậu lại sa đà vào những cuộc chơi phù phiếm? Tại sao cậu không viết những ca khúc cho thân phận VN 2 đang bị một thứ xiềng xích vô hình nhưng vĩnh cửu, vì nó được khoá bởi chính người VN chứ không phải ngoại bang? Hay ít ra thì cậu nên sống yên lặng như một cái bóng, một hòn đá tảng vì cái giấc mơ hoà bình, thống nhất quê hương của cậu dù không phải nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ hoàn toàn nền Cộng Hoà trẻ tuổi MNVN, nhưng về mặt tâm lý cũng đã ít nhiều làm lợi cho phía bên kia, vô tình đồng loã với kẻ đã gây ra cái bi kịch thảm khốc cho hằng triệu người Việt từng ái mộ, tôn thờ cậu nay phải bỏ nước ra đi bằng giá của cái chết không được chôn cất, bằng sự tật nguyền tinh thần, nếu may mắn đến được bờ tự do thì bạn cũng đáng được cảm thông… Vì tôi biết chắc chắn một điều là tất cả những trí thức thiên tả VN như cậu cũng đều không chờ đợi một kết cuộc cho đất nước theo cách như đang diễn ra…”. Nhưng có lẽ trực giác của tôi đã mách bảo rằng điều ấy nằm ngoài khả năng của TCS, cứ để cuộc sống của anh phụ thuộc vào bản năng, đã tiêu vong rồi một TCS mạnh mẽ dấn thân, mạnh mẽ ca hát cho hoà bình đất nước, cho dân tộc ấm no, bình đẳng, tự do và hạnh phúc như ngày nào. Thời cuộc làm ra TCS đấy thôi, anh không phải là người làm ra thời cuộc, nên tôi đà nghẹn họng.




Ảo Tưởng Cuối Cùng

Dần dà rồi TCS cũng tìm lại cho mình một phần phong độ sáng tác nhờ hấp thụ những ngọn lửa nhỏ từ những nhan sắc phụ nữ và sự trân trọng (theo chủ trương) của những nhạc sĩ thuộc Hội Âm Nhạc TP HCM như Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Thanh Tùng, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… và một nhóm nhạc do họ tổ chức có tên “Những Người Bạn” ra đời khoảng thập niên 90, và TCS được coi là đầu đàn. Anh trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc thu hút sự chú ý của công chúng mỗi khi anh có mặt trong các show diễn của nhóm. TCS cũng là một tiếng nói có trọng lượng nhất đối với nhiều tên tuổi hàng đầu của nhạc cách mạng VN như Văn Cao, Trọng Bằng, Hồng Đăng,... trừ ông nhạc sĩ Bộ Trưởng Bộ VH&TT Trần Hoàn (đã nghĩ hưu), người từng mở chiến dịch đả đảo anh một thời ở Huế, là vẫn tiếp tục nhìn TCS như một kẻ xấu.

Dù gì thì thế đứng chính trị của TCS cũng đã được tốt hơn trước rất nhiều, có phải vì thế mà anh đã chủ quan nghĩ mình là người đến lúc nên đứng vào hàng ngũ của đảng? Sơn đem ý định này nói với tôi, tôi liền can:“Không nên Sơn ơi, cậu đang là một nhân vật âm nhạc lớn, người ta nể trọng vì ảnh hưởng của cậu đối với công chúng rất lớn cũng như quốc tế. Nay cậu trở thành đảng viên mới tò te còn ai coi trọng nữa. Nếu ông Hoàng Hiệp chống lai là may cho cậu lắm đó!”. Tôi đã nói với TCS như thế và TCS im lặng. Tuy nhiên không phải nhờ sự phân tích ấy mà TCS không trở thành đảng viên Đảng CSVN, mà bởi sự ngăn cản của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, người giữ vai trò chính trị của Hội Âm Nhạc TP HCM và cũng là cán bộ có trách nhiệm quản lý TCS. Trong một lần bất bình vời Hoàng Hiệp về việc bị kiểm điểm, TCS đã chửi thẳng vào mặt Hoàng Hiệp ngay tại trụ sở Hội Âm Nhạc TP HCM: “Mày là thằng mặt lồn!”.

Đã không những không được vào đảng, TCS còn được cho về hưu để vĩnh viễn kết thúc giấc mơ - ảo tưởng cuối cùng của anh.

Cái Chết - Vinh Quang Đích Thực

Nếu con đường chính trị đối với TCS là một con đường dẫn anh xuống vực thẳm thì cái chết là một kết thúc hoàn hảo. Hay nói một cách khác, nó đã giải cứu và trả lại vinh quang đích thực cho anh - vinh quang dành cho di sản ca khúc TCS.

Không chỉ niềm vinh quang này bừng sáng huy hoàng bởi hàng chục ngàn người yêu âm nhạc của anh ở trong nước tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, mà người Việt trên khắp thế giới cũng nhỏ lệ tiếc thương, nhất là người Việt ở Mỹ, nơi mà Trịnh Công Sơn lúc sinh tiền không dám đặt chân đến dù không ít lời mời. Một lễ tưởng niệm long trọng được tổ chức tại Hội trường báo Người Việt với sự tham dự đông đảo của nhiều giới khác nhau trong cộng đồng ở cả Nam và Bắc California ngay trong đêm 1-4-2001, điều mà trước đó không ai dám nói công khai về tình cảm của mình với TCS ở chỗ đông người tại Mỹ.



Lời Kết

Sau 8 năm Trịnh Công Sơn ra đi, mọi cảm xúc thương tiếc sau cái chết của anh trong mỗi chúng ta cũng đã phần nào chìm lắng, hôm nay, tôi quyết định và chọn lựa thời điểm này để viết về một góc khác, một phương diện khác của Trịnh Công Sơn mà chưa ai viết hoặc viết một cách có hệ thống
Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.

Đó là về phần cá nhân tôi, còn đối với TCS, bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng chưa phải là sự thật. Tôi tin vào điều tốt đẹp của sự thật. Nó có thể sẽ làm tan đi hình ảnh một TCS được tô vẽ bởi những huyền thoại và ảo ảnh lấp lánh trong lòng ai đó, nhưng sẽ trả lại một TCS thiên tài đích thực của âm nhạc như nó vốn có, để mọi người nếu đến với nhạc Sơn thì sẽ có được cơ may yêu mến trọn vẹn một con người có thực, chứ không phải một thứ tượng đài được nhào nặn, tô vẽ và dựng lên vì một mục đích riêng. Đã đến lúc sự thật đó cần được trả lại cho những người Việt đã, đang và sẽ mãi còn coi nhạc Trịnh là lẽ sống của mình, mang nó theo mình như một thứ tài sản vô giá dù đi đến bất kỳ đâu, dù ở chiến tuyến nào.

Tất nhiên, những lập luận và lời kể trong bài viết này dựa vào những gì tôi đã trải qua, những tư liệu riêng và những tư liệu của những người bạn cũ của TCS mà họ đã công khai phổ biến trên các phương tiện truyền thông, và vì thế chắc chắn còn thiếu sót tất yếu, vì tôi biết còn nhiều sự thật đang được cất dấu bởi những người có quan hệ cận kề với TCS trong từng giai đoạn của lịch sử VN từ 1954 đến hôm trước khi TCS qua đời mà họ vì những lý do nào đó chưa tiện nói ra. Tôi xin cám ơn những ai sẽ đóng góp thêm những gì giúp cho bài viết này được hoàn hảo hơn, kể cả những phản biện.

Sau cùng, mỗi con người Việt Nam đã trải qua và sống sót sau cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua đều giữ trong mình những sự thật riêng, một gốc nhân chứng riêng, xin quí vị hãy trả lại nó cho lịch sử, nếu được như thế thì tấm gương lịch sử VN mới trong sáng được. Cũng vì điều này, cho tôi xin lỗi những gì mà bài viết có làm tổn thương đến một ai đó cũng là vì không còn sự lựa chọn nào khác.




Sài Gòn 29/3/2009
TRỊNH CUNG

Và đây là một trong những comment của độc giả.

Trần Am viết:

Bài viết của Trịnh Cung là một bài viết thú vị về Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ thuộc loại “huyền thoại” của âm nhạc Việt Nam . Và vì ông đã là một đạng huyền thoại , bài viết của Trịnh Cung có chiều hướng tích cực trong sự đánh đổ huyền thoại đó . Ai đó đã nói : Việt Nam là một nước qúa nhỏ nhưng có quá nhiều anh hùng, quá nhiều huyền thoại . Hiển nhiên, đó một điều không tốt .

Tuy nhiên , vì bài viết của Trịnh Cung đề cập quá nhiều dữ kiện, trước khi có ý kiến, cho phép tôi đặt ra nhiều câu hỏi , nếu được trả lời, thì quý giá biết bao .

Người theo dõi TCS xưa nay, ai cũng biết về tình bạn của bộ ba TCS, Trịnh Cung và Đinh Cường . Bài viết của Trịnh Cung nhắm vào 2 đối tượng : TCS và Đinh Cường, 2 người bạn (đã từng) chí thân , có lẽ là một điều hơi bất bình thường đối với một quan hệ văn nghệ bạn bè kéo dài qua bao nhiêu thập kỷ . Chắc người đọc cũng sẽ phải tự hỏi : tại sao Trịnh Cung làm điều đó ? có thực để “đứng trên đôi chân liêm sĩ” của mình để nói ra những điều bưng bít chăng ? hay người viết có một mục đích, tâm địa nào khác ?

Vì bài viết nêu quá nhiều dữ kiện, tôi xin hỏi đôi điều trước khi tìm cách hiểu cặn kẽ hơn về bài viết :

1/ Trong gần 3 năm đi học tập cải tạo, TCung chỉ “nghe nói” về những gì xảy ra với TCS trong 3 năm đầu sau 75 . Điều gì khiến ông chắc chắn những gì nghe được là đúng ?

2/ Thông tin từ Nguyễn Hữu Đống trong một bữa ăn để “kể tội” TCS vì sự hiểu lầm cá nhân, điều đó có đáng tin cậy hoàn toàn ?

3/ Ngày “anh em ta về”, câu nói của Tôn Thất Lập làm sao để kiểm chứng ? Nhạc sĩ TTL còn sinh hoạt văn nghệ ở SG và có mặt lúc đó, có lẽ chỉ có ông mới biết được sự thật hôm 30 tháng 4 ở đài Phát Thanh của TCS thế nào (trong lúc Trịnh Cung không có mặt)

4/ “Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân, ..” Tại sao trong một bài viết đầy tính vạch trần, Ng K. là ai mà không được tiết lộ ?

5/ “Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi” …

Lại trích lời một hoạ sĩ quá cố kể lại ?

6/ “Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH …” Theo tôi biết, sau 30 tháng 4 ở thành phố Huế, có nhiều người mang chức bật Đại Uý , thậm chí cao hơn , cũng không bị đi cải tạo . Sự quyết định xảy ra từng vùng, tuỳ vùng . Sự tố cáo của Trinh Cung với người bạn họa sĩ kia cần được chứng minh thêm - “hoạt động chống VNCH” cụ thể là gì ?

7/ “Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”.” .

Sau 30 tháng 4, những nhân vật như Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng có quyền cấp giấy miễn cải tạo cho TCung không ? và nếu có được , liệu TCung có thật sự anh hùng để từ chối và tự nguyện đi tù trong một hoàn cảnh rất tối tăm và cái chết có thể đến trong những lời đồn “tắm máu” thời đó chăng ?

Tôi tự hỏi vì thật sự tôi đã sống trong khu phố của Trịnh Cung ở SG . Sau gần 3 năm cải tạo, có lẽ được “cải tạo” đúng mức chăng, TCung trở về xung phong làm tổ trưởng tổ dân phố rất gương mẫu và phục vụ chính quyền Phường Quận chăm chỉ . Ông có khoe biết cách “đút lót” để cho 2 con vào trường âm nhạc TPHCM . Ông thậm chí viết trình lên Uỷ Ban TPHCM một lá thư tố cáo người bạn thân TCS về quan hệ của TCS với những nhận vật như Lưu Kim Cương, Nguyễn Cao Kỳ …để lập công . Sau đó, TCung làm mọi cách để xin vào làm thành viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam, trụ sở ở Hà Nội . Xin nhắc lại , đây là những điều tôi tai nghe , nhưng nếu tôi chỉ biết nêu lên những dữ kiện trên, thì mức độ đáng tin cây đến mức nào ? chắc chắc rất nhiều người không tin , tuy rằng đó là điều thật .

Theo tôi biết, Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng vẫn còn sống . Chắc bài viết sẽ thêm giá trị nếu được sự minh chứng của cách nhân vật được nêu tên . Tôi vẫn giữ trong tay vô số minh họa cờ đỏ sao vàng, anh bộ đội của TCung trên báo Xuân TPHCM. Liêu một người như thế có quyền lên án sự “theo thời” của TCS , nếu có ?

Về khoản “Rượu chè, phụ nữ …” Tôi từng đọc rất nhiều bài báo về TCung , nhất là trong các chuyên đi Mỹ của ông, về cách ông mê , chiêu dụ phụ nữ đẹp thế nào . Điều đó hoàn toàn chấp nhận được. Tuy nhiên, bài viết cho cảm tưởng TCung là một người đứng ngoài những “hoan lạc” (!) trên để giúp đở TCS về với con người liêm sĩ ? Còn vô số hình ảnh trên web TCung choàng vai TCS bên những cuộc vui mà ông gọi là hoan lạc đó ? Ông vào đó có thật sự như một người canh giữ TCS ?

Để bài viết được “convincing” hơn, tôi đề nghị tác giả minh chứng thêm những điều ông kể ra trong lúc vắng mặt, chỉ nghe qua người khác , hoặc có được sự xác nhận từ những nhận vật còn sống, cũng là những “nhân chứng TCS” . Cảm ơn ông, nếu các câu hỏi được làm rõ thì quý biết bao .